Ảnh hưởng của chất độc da cam(dioxin) để lại sau chiến tranh

Dioxin Trong Chiến Tranh Việt Nam

Chất độc da cam (thường được đề cập đến là Agent Orange, hay AO) là một loại thuốc diệt cỏ, gồm có hai thành phần chính: 2-4-dichlorophenoxyacetic và 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (tức dioxin). Trong thập niên 1940, chất màu da cam được phát triển để diệt cỏ dại. Tuy nhiên, hóa chất này còn tỏ ra rất hữu hiệu trong việc tiêu diệt các loại cây có lá rộng và vụ mùa. Khả năng diệt cỏ và cây xanh của AO đã thu hút sự chú ý của giới quân sự Mỹ, và họ đã thử nghiệm thành công ở Fort Detrick (bang Maryland), Căn cứu Không quân Eglin (bang Florida), và Camp Drum (bang New York), trước khi đem sang dùng ở Thái Lan vào đầu thập niên 1960’s.

Chât độc da cam dioxin
Chât độc da cam dioxin

Tuy nhiên, AO chỉ được dùng một cách qui mô trong thời chiến tranh Việt Nam, với mục đích chính là khai hoang đồng cỏ, làm cho đối phương (quân đội cộng sản) không có chỗ lẫn tránh. Ngày 20 tháng 11 năm 1961, Tổng thống Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hàng chiến dịch Operation Ranch Hand để khai hoang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Tổng thống Ngô Đình Diệm ủng hộ một cách nồng nhiệt, vì ông ta cho rằng ông “biết cộng sản đang ở đâu.” Tuy nhiên, trong nội bộ Mỹ, có sự phản đối từ các nhân vật cao cấp từ Bộ Ngoại giao như Roger Hilsman và W. Averell Harriman, vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là đồng lúa của đối phương sẽ bị tiêu hủy hay không. Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.

Kể từ năm 1962, Lực lượng Không quân Mỹ đã bắt đầu dùng chất độc màu da cam ở các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Năm 1969, trong một báo cáo khoa học cho Viện Y học (Mỹ), dựa vào các thí nghiệm trên chuột, một số nhà khoa học Mỹ đã kết luận rằng chất màu da cam có thể gây ra dị thai (birth defect). Năm 1970, chính phủ Mỹ ra lệnh ngưng dùng chất màu da cam trong chiến tranh, nhưng trên thực tế, các thuốc khai hoang khác vẫn được tiếp tục xịt cho đến năm 1971 mới chấm dứt. Trong thời gian mười năm (tính từ 1962 đến 1971), trong Chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã rải xuống Việt Nam khoảng 19 triệu gallons (tức khoảng 71.9 triệu lít) thuốc khai hoang, trong đó có 11 triệu gallons (hay 41.6 triệu lít) AO. Với 11 triệu gallons AO, người ta đoán rằng có chứa khoảng 368 pounds (tức 167 kg) dioxin. Phần lớn (90%) AO được rải xuống Việt Nam bằng máy bay loại C-123, và phần còn lại (10%) bằng trực thăng, xe vận tải, và đi bộ. Tổng diện tích mà quân đội Mỹ đã rải là 1.5 triệu hectares, tức gần 10% diện tích của miền nam Việt Nam, trong đó có nhiều vùng bị rải hơn 4 lần. Theo báo cáo chính thức của Chiến dịch Ranch Hand, kết quả là quân đội Mỹ đã phá hủy khoảng 14% diện tích rừng nam Việt Nam, kể cả 50% các vườn xoài.

Dioxin Và Cựu Chiến Binh Mỹ

Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, hai thành phần được công nhận là chịu ít nhiều ảnh hưởng của dioxin: đồng bào Việt Nam sống trong các vùng bị rải AO, và quân nhân Mỹ, những người trực tiếp rải hóa chất này. Sau năm 1975, một số cựu chiến binh Mỹ và thân nhân của họ bắt đầu phàn nàn tình trạng suy đồi sức khỏe, đặc biệt là ung thư, và tình trạng khuyết tật trong con cái của họ. Những cựu chiến binh này nghi ngờ rằng dioxin là thủ phạm của những bệnh tật như thế. Họ vận động với chính phủ, và một số thượng nghị sĩ cũng khẳng định rằng AO, hay dioxin, là độc chất gây ra bệnh tật cho giới cựu chiến binh, và kêu gọi chính phủ phải bồi thường cho những thiệt hại này. Tiếp theo đó, Bộ phụ trách các dịch vụ cựu chiến binh (Department of Veterans Affairs) bắt đầu tiến hành thủ thục bồi thường cho những cựu chiến binh mắc bệnh “ung thư hạch không Hodgkins “hay” sarcoma mô mềm. “

 

Dioxin Và Người Việt Nam

Ở Việt Nam, sau một loạt trường hợp dị thai được ghi nhận ở các tỉnh miền Trung mà trong thời chiến tranh chịu ảnh hưởng chất AO, đã bắt đầu nghi ngờ tác hại của dioxin. Nhà cầm quyền Việt Nam đã cố công thu thập và trưng bày trong vài bệnh viện ở Sài Gòn nhiều trường hợp dị thai, và rải rát trên báo chí người ta tường trình các trường hợp cha mẹ bị nhiễm AO thường sinh con có tật hoặc bị bệnh. Việt Nam còn đưa ra một số số liệu thống kê để chứng minh AO gây ra dị thai. Tuy nhiên, hầu hết số liệu và nghiên cứu của Việt Nam đều bị giới khoa học thế giới đánh giá thấp, nếu không muốn nói là không được công nhận. Lí do đơn giản là tất cả các nghiên cứu của Việt Nam trong lĩnh vực này chưa đạt được tiêu chuẩn của một “nghiên cứu” nghiêm túc, tức là thiếu khoa học tính. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, Việt Nam có cơ hội tiến hành những nghiên cứu có chất lượng cao, và có tiềm năng cống hiến nhiều dữ kiện quan trọng cho y học thế giới mà không nơi nào có được. Song, trong vài năm gần đây, phía Việt Nam tỏ ra miễn cưỡng trong việc hợp tác với người Mỹ trong việc nghiên cứu AO ở Việt Nam, vì chính phủ Việt Nam quan tâm đến một kết quả từ những nghiên cứu như thế sẽ chẳng mang lại lợi ích gì, nếu không muốn nói là có hại, cho nền kinh tế xuất khẩu nông sản của Việt Nam! Nếu thế giới biết được những vùng như Ban Mê Thuột bị nhiễm dioxin thì kỹ nghệ sản xuất và xuất cảng cà phê của Việt Nam ắt hẳn phải gặp khó khăn.

 

Mức Độ Nhiễm Dioxin

Ước định mức độ nhiễm độc là một chìa khóa để xác định mối quan hệ giữa một căn bệnh và một độc chất. Mức độ này được đo lường bằng thời gian, và mức độ tích tụ (concentration levels) của dioxin trong máu của cá nhân bị nhiễm. Thời gian mà cá nhân bị ảnh hưởng bởi dioxin chỉ được đánh giá qua lời khai của “nạn nhân” và không có phương pháp nào để biết những lời khai này chính xác hay không. Mức độ dioxin trong con người có thể được xác định qua thử máu, da, hoặc sữa, bằng cách dùng quan phổ kế (spectrometry). Quan phổ kế đo độ dioxin trên mỗi nghìn tỉ particles, hay còn gọi là ppt (parts per trillion). Theo kinh nghiệm lâm sàng, một mức độ tích tụ dioxin từ 10 ppt hay cao hơn được xem là bất bình thường và có hại cho sức khỏe.

Giáo sư Arnold Schecter thuộc Trường Đại học Texas (một người đã bỏ ra cả đời làm khoa học của ông để nghiên cứu tác hại của AO) đã đo lường độ tích tụ dioxin trong 100 cư dân ở Hà Nội (nơi không bị rải AO trong thời chiến tranh) và 100 cư dân ở Biên Hoà (từng bị rải AO nhiều nhất). Giáo sư Schecter kết luận rằng mức độ tích tụ dioxin trong cư dân Biên Hòa cao hơn mức độ dioxin trong người Hà Nội đến 135 lần. Con số này được giới truyền thông quốc tế loan tải rộng rải như là một báo động. Tuy nhiên, sau khi dọc kỹ bài báo khoa học này, tôi có lí do để cho rằng đây là một con số cường điệu, và giới truyền thông đã hiểu sai. Thực ra, Giáo sư Schecter đã so sánh mức độ tích tụ tối đa ở Biên Hòa (271 ppt) với mức độ trung bình ở Hà Nội (2 ppt), và đây là một việc làm không nghiêm túc, vì cách làm này cũng giống như lấy chiều cao của một người Mỹ cao nhất nước Mỹ để so với chiều cao trung bình của dân số Việt Nam. Kết quả cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong cư dân (khoảng 900 người) cư ngụ trong các vùng bị rải AO như sau:

Trong máu: 12.6 ppt (tối thiểu: 3.4, tối đa: 32 ppt)
Trong sữa: 7.5 ppt (tối thiểu: 1, tối đa: 17 ppt)
Trong mô mỡ: 14.7 ppt (tối thiểu: 2, tối đa: 103 ppt)
Trong nhóm cư dân không cư ngụ trong các vùng bị rải AO (khoảng 150 người), kết quả như sau:

Trong máu: 2.2 ppt (tối thiểu: 1, tối đa: 2.9 ppt)
Trong sữa: 1.9 ppt (tối thiểu: 1, tối đa: 2.1 ppt)
Trong mô mỡ: 0.6 ppt (tối thiểu: 1, tối đa: 1.4 ppt)
Bài báo này còn tính chỉ số trung bình cho mỗi tỉnh. Ở các tỉnh miền Bắc, mức độ tích tụ dioxin trung bình chỉ khỏang 2.2 ppt, miền Trung là 13.2 ppt, và miền Nam là 12.9 ppt. Tuy nhiên, mức độ không phải đồng đều như thế, có vài nơi cao hơn, và có nơi thấp hơn, trung bình. Ở miền Trung, các tỉnh như Đà Nẵng có mức độ tích tụ cao nhất (khoảng 19 ppt). Riêng ở miền Nam, các tỉnh sau đây có mức độ dioxin khá cao: Đồng Nai-Biên Hòa (28 ppt), Sông Bé (32), và huyện Trà Nóc (Hậu Giang) với mức độ tích tụ lên đến 33 ppt. Như vậy, dù Biên Hòa có mức độ tích tụ dioxin cao hơn các nơi khác trong nước, nhưng mức độ không quá báo động như 135 lần. Dựa vào số liệu của Giáo sư Schecter và theo sự ước đoán của người viết bài này, mức độ tích tụ dioxin ở Biên Hòa – Đồng Nai cao hơn Hà Nội khoảng 8,5 lần. Nhưng đó vẫn là một mức độ rất đáng quan tâm.

Tác Hại Của Dioxin Trong Thú Vật

Kết quả nghiên cứu cơ bản (trong tế bào) trên động vật như chuột cho thấy TCDD có khả năng gây nên một số ảnh hưởng đến giới tính, tuổi tác, và sự căng thẳng, kể cả gây ra ung thư, tổn hại đến hệ thống miễn nhiễm, gây ra tình trạng bất bình thường trong hệ thống tái sinh sản, tổn hại đến tế bào gan và hệ thống thần kinh, xuống cân. Trong chuột, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng với một liều lượng thấp, dioxin vẫn có thể làm giảm khả năng sản xuất tinh trùng, và do đó có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản trong chuột. Ngoài ra, khi thí nghiệm trong ống nghiệm, các nhà nghiên cứu còn cho thấy dioxin có ảnh hưởng đến sự điều tiết của serotonin, một hormone có nhiệm vụ truyền tín hiệu đến hệ thống thần kinh và điều khiển mức độ ăn uống. Sự ảnh hưởng này cũng phù hợp với một số nhận xét trước đây cho thấy khi chuột bị nhiễm dioxin, chúng cũng bị chứng biếng ăn và mất cân.

Tác Hại Của Dioxin Trong Con Người

Ảnh hưởng của chất độc da cam(dioxin) để lại sau chiến tranh
Tác Hại Của Dioxin Trong Con Người

Trong nghiên cứu y khoa, người ta phân biệt hai loại tương quan, mà tiếng Anh gọi là “association” và “linkage.” Tuy theo cách dịch thông thường, hai danh từ này không khác nhau mấy, nhưng trong nghiên cứu y khoa, hai thuật ngữ này mang ý nghĩa rất khác nhau: association có thể hiểu là mối “liên hệ gián tiếp”, và linkage là mối “liên hệ trực tiếp.” Có thể lấy hai ví dụ sau để làm sáng tỏ hai quan niệm này: Nếu một yếu tố A ảnh hưởng đến yếu tố trung gian K, và K gây ra bệnh X, thì mối tương quan giữa A và X được xem là liên hệ gián tiếp; tuy nhiên nếu yếu tố A gây ra bệnh X mà không qua ảnh hưởng đến một yếu tố trung gian nào thì mối tương quan này được xem là liên hệ trực tiếp. Phần lớn những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dioxin và bệnh tật chỉ có thể xem là liên hệ gián tiếp, vì chưa ai có thể giải thích một cách chính xác cơ chế ảnh hưởng của dioxin ra sao. Thực ra, cũng cần nói thêm rằng đại đa số các vấn đề y khoa, kể cả mối liên hệ giữa ung thư và hút thuốc lá đều có thể cho là liên hệ gián tiếp.

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận rằng dioxin trực tiếp gây ra các bệnh sau đây: Soft-tissue sarcoma, Non-Hodgkin’s lymphoma, bệnh Hodgkin , và bệnh ban clor (chloracne). Tháng 4 năm 2001, Viện Y khoa công bố một thông cáo báo chí mà trong đó các nhà nghiên cứu cảm thấy có đủ dữ kiện để có thể kết luận rằng con của các cựu quân nhân Mỹ bị nhiễm dioxin có tỷ lệ bị bệnh ung thư máu cao hơn trung bình.

Trong một cuộc khảo cứu công phu ở Ý, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Milano-Bicocca (Ý) và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Y tế (Mỹ) đã theo dõi tỷ lệ sinh sản suốt 25 năm liền trong vùng Seveso (Ý), nơi có một hãng sản xuất thuốc diệt cỏ bị cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin vào năm 1977. Họ khám phá rằng những đàn ông bị nhiễm dioxin có xác suất sinh con trai thấp hơn những đàn ông không bị nhiễm dioxin (hay bị nhiễm nhưng ở mức độ thấp). Trong các người cha không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm nhưng có mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt, tỷ lệ sinh con trai là khoảng 56%; và trong các người cha sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ 16 ppt hay cao hơn, tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%.

 

 

DMCA.com Protection Status
**Lưu ý phòng chống dịch Covid 19
+ Phòng khám Y Học Cổ Truyền Sài Gòn thực hiện công tác:
  • Đo thân nhiệt
  • Hỗ trợ bệnh nhân xác khuẩn tay
  • Cấp miễn phí khẩu trang
+ Cho bệnh nhân khi đến khám tại Phòng khám
**Phòng khám luôn khử trùng mỗi ngày

Bài viết cùng chủ đề