Thực trạng tại các vùng bị nhiễm chất độc da cam – dioxin

Thực trạng tại các vùng bị nhiễm chất độc da cam - dioxin

Chiến tranh tuy đã kết thúc, song thảm họa da cam vẫn còn đó với gần 5 triệu người bị phơi nhiễm chất da cam, trong đó có hơn 3 triệu nạn nhân, khoảng 150.000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh.

Nạn nhân chất độc da cam

Những số phận thương tâm

Tại Quảng Bình hiện có khoảng 6.789 nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin. Mỗi gia đình, mỗi nạn nhân bị phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp đều có hoàn cảnh, số phận đau thương cần sự giúp đỡ.

Gia đình anh Đỗ Đức Địu ở xã Võ Ninh – huyện Quảng Ninh với 15 lần sinh nở thì đến nay đã có tới 12 nấm mồ dành cho các con cũng chỉ bởi chất độc da cam từ người cha không may mắn.

Đó là gia đình bà Lê Thị Thanh (74 tuổi) ở xã Phúc Trạch – huyện Bố Trạch có đến 3 thế hệ bị nhiễm chất độc da cam/dioxin gồm chồng bà và 7 người con cùng 6 người cháu. Đứa con gái của bà Thanh là chị Nguyễn Thị Lĩnh lấy chồng sinh con chưa đầy tháng tuổi, người chồng thấy con bị dị tật do bị nhiễm chất độc da cam từ vợ (từ chị Lĩnh) liền bỏ rơi hai mẹ con chị Lĩnh đi biệt tăm đến nay đã hơn 2 năm.

Đó còn là trường hợp của Lê Thị Hằng ở xã Hoa Thủy – huyện Lệ Thủy đã hơn 23 năm nay bị mắc căn bệnh “lột da rắn”. Cứ khoảng 3 tháng một lần, toàn thân em bị lột thay da rất đau rát. Bố em là ông Lê Ngọc Niềm sinh được 5 người con thì hiện đã mất 2 vì bị nhiễm chất độc da cam/dioxin từ ông. Trường hợp của Hằng, mặc dù ông và người thân gia đình đã đi nhiều nơi, nhưng đến nay “căn bệnh lạ” của Hằng vẫn không sao chữa khỏi.

Kontum: hơn 7.000 nạn nhân chất độc da cam

Kon Tum là tỉnh đầu tiên quân đội Mỹ  rải chất độc hóa học trên xuống chiến trường miền Nam Việt Nam. Chiến tranh đã qua đi 36 năm, nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum vẫn còn hơn 7.000 nạn nhân nhiễm chất độc hóa học da cam/dioxin. Ngày 10/8/1961, chiếc máy bay trực thăng H34 của Mỹ đã rải xuống phía Tây trục đường 14 thuộc 2 huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi của tỉnh Kon Tum, mở đầu cho chiến dịch rải chất khai quang của đế quốc Mỹ. Trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải xuống Kon Tum khoảng 346.000 lít chất độc hóa học và bình quân mỗi người dân Kon Tum phải chịu ảnh hưởng khoảng 4,8 lít, tương đương 6kg chất độc hóa học.

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin nhưng hiện nay tại Kon Tum mới có được khoảng gần 800 nạn nhân là người tham gia kháng chiến và con cháu của họ được hưởng chế độ chính sách trợ cấp của nhà nước. Để xoa dịu phần nào nỗi đau chất độc da cam/dioxin, trong hơn 5 năm, kể từ khi thành lập (2006-2011), Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Kon Tum đã huy động được sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh, góp phần quan trọng, giải quyết một phần khó khăn cho các nạn nhân chất độc da cam/dioxin, người tàn tật trên địa bàn. Tính đến tháng 8/2011, Hội đã huy động được 2 tỷ đồng, hỗ trợ và xây dựng, sửa chữa 40 căn nhà; trao 1.500 suất quà; hỗ trợ tìm những công việc cho cơ sở nuôi dạy nghề và làm nghề tự nguyện; khám, chữa bệnh, trợ cấp khó khăn cho trên 200 lượt đối tượng trong tỉnh.

Ô nhiễm đất tại sân bay Đà Nẵng

Trong thời gian tháng 1 và tháng 4 năm 2009, Văn phòng 33 cùng với Công ty tư vấn Hatfield dưới sự tài trợ của Quỹ Ford đã thực hiện nghiên cứu lấy mẫu môi trường và con người tại khu vực sân bay Đà Nẵng. Báo cáo này sẽ tập trung vào kết quả phân tích trầm tích, đất, tại các khu vực Pacer Ivy (khu vực đóng thùng PIRA – Pacer Ivy Re-drumming Area, khu vực kho chứa PISA – Pacer Ivy Storage Area) và tại khu vực vành đai phía Nam. Các mẫu được bảo quản và được Hatfield đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm AXYS tại Canada, hàm lượng dioxin đuợc phân tích bằng máy HR-GCMS. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nồng độ TCDD so với TEQ của các mẫu lấy tại PISA, PIRA và các khu vực giáp gianh thấp hơn so với phía Bắc. Một mẫu đất lấy tại PISA và hai mẫu liền kề có hàm lượng TCDD cao hơn mức cho phép của quốc tế và Việt Nam.

Sân bay Đà Nẵng được biết đến là một trong những điểm nóng ô nhiễm dioxin do Mỹ sử dụng làm nơi vận chuyển, bãi chứa phi các chất diệt cỏ mà chủ yếu là chất da cam dioxin, bãi nạp và rửa máy bay trong chiến dịch Ranch-Hand ở Việt Nam. Các hoạt động này đã gây ra ô nhiễm nặng dioxin tại một số điểm trong sân bay. Các nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra một bức tranh báo động về mức ô nhiễm nặng tại khu phía Bắc và khuyến cáo về thực trạng ô nhiễm tại đây cho cộng đồng dân cư sống gần khu ô nhiễm. Và gần đây nhất, năm 2007, nghiên cứu xác định phạm vi và mức độ ô nhiễm dioxin ở phía Bắc sân bay Đà Nẵng và vùng phụ cận, do Văn phòng 33 và Công ty tư vấn Hatfield thực hiện đã cung cấp thêm các số liệu bổ sung cho những kết luận trên.

Vào tháng 6 năm 2007, cuộc hội thảo do Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Mỹ tổ chức tại Hà Nội với mục đích trao đổi thông tin về chất độc da cam/dioxin mà quân đội Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam, về lượng dioxin và các thông tin khác có liên quan. Trong đó, GS. Young A.L có giới thiệu các điểm nghi có chứa dioxin, trong đó có bãi chứa phi, và bãi đóng phi trong chiến dịch Pacer Ivy. Mục đích của chiến dịch này là tập hợp và vận chuyển toàn bộ các chất diệt cỏ còn lại ở miền Nam Việt Nam để chuyển đến đảo Johnston giữa Thái Bình Dương. Do điều kiện trong chiến tranh, việc vận chuyển đã không đảm bảo được các nguyên tắc thực hiện nên đã gây ra ô nhiễm ở những địa điểm trong chiến dịch này; đặc biệt là tại phía Nam sân bay Đà Nẵng. Tháng 10 năm 2007, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tiến hành khảo sát và xác minh các vị trí Pacer Ivy nghi nhiễm tại phía Nam căn cứ không quân Đà Nẵng: khu vực đóng thùng Pacer Ivy (PIRA) và khu vực kho chứa Pacer Ivy (PISA). Tổng diện tích của hai vị trí chứa chất diệt cỏ Pacer Ivy xấp xỉ 21.000m2.

DMCA.com Protection Status
**Lưu ý phòng chống dịch Covid 19
+ Phòng khám Y Học Cổ Truyền Sài Gòn thực hiện công tác:
  • Đo thân nhiệt
  • Hỗ trợ bệnh nhân xác khuẩn tay
  • Cấp miễn phí khẩu trang
+ Cho bệnh nhân khi đến khám tại Phòng khám
**Phòng khám luôn khử trùng mỗi ngày

Bài viết cùng chủ đề